Suy nghĩ về việc bài trí thờ thần linh ở đàn tế Nam Giao Thành Nhà Hồ
PGS.TS. Tống Trung Tín
Chủ tịch Hội Khảo cổ học Việt Nam
Đàn tế Nam Giao là 1 công trình kiến trúc quan trọng và là nghi lể tế tự hàng đầu của các vương triều quân chủ phương Đông. Ở Việt Nam, từ thời Lý đã xây dựng đàn tế Nam Giao. Tuy nhiên, đàn tế Nam Giao thời Lý, thời Trần, sau đó là thời Lê Sơ, thời Lê Trung hưng đều không còn nữa. Hiện chỉ còn có dấu tích đàn tế Nam Giao Huế (đã phục dựng).
Bởi vậy, dấu tích đàn tế Nam Giao cổ nhất, còn tương đối nguyên vẹn nhất móng nền là thuộc về thành Nhà Hồ (Thanh Hóa) (1397-1407). Đàn tế này được Khảo cổ học nghiên cứu trong các năm 2008-2011. Tuy nhiên, để phát huy giá trị thì cần phải nghiên cứu, so sánh lâu dài trên các phương diện rước sách, thời cúng thần linh, nghi thức cúng tế, vật phẩm cúng tế….Một trong những vấn đề cần nghiên cứu làm rõ là việc thờ cúng thần linh tại đàn tế Nam Giao là như thế nào? Tế Nam Giao hiển nhiên là tế Trời, nhưng việc bài trí tế Trời như thế nào? Ngoài Trời thì còn thờ các vị thần linh nào khác?
Để tìm hiểu vấn đề này, trước hết cần tìm hiểu cấu trúc của đàn tế Nam Giao Thành Nhà Hồ.
Cấu trúc Nam Giao Thành Nhà Hồ có vị trí thời Trời rất rõ và ở vị trí cao nhất: đó là nền 1 nơi có dấu tích Viên đàn (đàn Tròn) tượng trưng cho Trời nằm gần chính giữa nền đàn 1 gần hình vuông tượng trưng cho Đất.
Phía trước Nền đàn thờ Trời Đất có 2 cụm kiến trúc đối xứng 2 bên tại nền 2. Mỗi cụm kiến trúc có 3 dấu tích móng nền kiến trúc nhỏ: nền kiến trúc hình chữ nhật ở phía sau (16,20m x 6,00m), 3 gian, 2 chái, 2 nền kiến trúc phía trước hình vuông (5,50m x 5,50m). Tất cả được lợp ngói sen, ngói màn trang trí hoa lá. Phía trước các nền kiến trúc này đều có bậc cấp lên xuống.
Tại nền 3, đối xứng về 2 bên qua trục thần đạo, cũng có 2 cụm kiến trúc tương tự như ở nền 2, trên móng nền các kiến trúc này, dấu tích móng cột còn khá rõ ràng. So với 2 cụm kiến trúc nền 2 thì 2 cụm kiến trúc ở nền 3 có thêm tường vây bao xung quanh và có mở lối đi lên nền đàn 2.
Vậy đây là các kiến trúc dùng để làm gì? Bằng nghiên cứu so sánh tổng hợp, chúng tôi đoán rằng 4 cụm kiến trúc nói trên ở Nam Giao Thành Nhà Hồ là nơi đặt bài vị thờ các vị thần linh liên quan đến vũ trụ quan tôn giáo của các vương triều quân chủ phương Đông thời xưa.
Điều này được thấy tương đối rõ qua so sánh với các trường hợp thờ cúng thần linh tại Nam Giao Kinh Đô Huế, Nam Giao Nam Kinh (Trung Quốc), Nam Giao (Hàn Quốc).
1. Sắp đặt thờ cúng thần linh tại Nam Giao Huế qua ghi chép của Cadière L. năm 1915.
Cadière L. ghi chép việc bài trí thờ cúng thần linh tại đàn Nam Giao Huế trong bài Khảo Cứu Tế Nam Giao đăng trong Bulletin des Amis du Vieux Huế năm 1915, in lại năm 1936. Ông đã mô tả rất chi tiết việc bài trí thờ cúng ở Nam Giao Huế như sau:
- Tại Viên đàn nơi thờ Trời có 2 bàn thờ chính xếp cùng 1 hàng ở phía Bắc gọi là Chính Án Tự.
Bàn thờ phía Đông (bên tả) dành cho Trời sẽ có bài vị màu xanh (màu xanh tượng trưng cho Trời) có ghi 4 chữ Hán Hiệu Thiên Thượng Đế, các vật dụng thờ đều có hình tròn và màu xanh.
Bàn thờ phía Tây (bên Hữu) dành cho Đất sẽ có bài vị màu vàng (màu vàng tượng trương cho Đất) có ghi 3 chữ Hán Hoàng Địa Kỳ, các vật dụng thờ ở đây đều có hình vuông và màu vàng.
Tiếp theo, có 5 bàn thờ các vị thần linh khác được thờ 2 bên trái và phải của Chính Án Tự đặt đối diện nhau thẳng góc với Chính Án Tự: bên phải (Tây) 2 bàn, bên trái (Đông) 3 bàn. Các bàn thờ này để thờ các tiên đế nhà Nguyễn gọi là Án Phối. Các tiên đế được thờ Kính vì có công đức được hưởng thờ như Trời và Đất. Thứ tự các vị tiên đế nhà Nguyễn được thờ như sau:
Bàn(Án) Đông(bên Tả) Tây( bên Hữu)
Bàn thứ nhất Nguyễn Hoàng Gia Long
Bàn thứ hai Minh Mạng Thiệu Trị
Bàn thứ ba Tự Đức
- Tại Phương đàn: có 2 dãy bàn thờ: phía Đông có 4 bàn, phía Tây có bốn bàn được xem như nối tiếp với các Án Phối ở Viên đàn.
Thứ tự các vị thần được thờ ở đây như sau:
Bàn/ Án Đông (bên Tả) Tây (bên Hữu)
Bàn thứ nhất Đại Minh chi thần/ Thần Mặt trời Dạ Minh chi Thần/ Thần Mặt Trăng
Bàn thứ 2 Châu Thiên Tinh Tú chi thần/ Các vị tinh tú Sơn Hải Giang Trạch chi thần/ Núi Biển Sông Hồ
Bàn thứ 3 Vân Vũ Phong Lôi chi thần/ Thần Mây, Mưa, Gió , Sấm Khưu Lăng Phần Diễn chi thần/ Thần Gò, Đồi, Đồng Bằng Màu Mỡ
Bàn thứ 4 Thái Tuế Nguyệt Tưởng chi thần/ Thần Năm Tháng Thiện Hạ thần ký chi thần/ Thần Trời Đất Khắp Thế Giới
2. Sắp đặt thờ cúng thần linh ở đàn Nam Giao Nam Kinh thời Minh ở Trung Quốc.
Trên sơ đồ của Vương Quý Dương
(http://chiculture.org.hk/sc/China_five_thousand_years/3664) công bố năm 2020 có vẽ sơ đồ sắp đặt thờ cúng thần linh tại Nam Giao Nam Kinh có nét gần nhưng cũng có nhiều nét khác biệt so với Nam Giao Huế. Cụ thể như sau:
- Các vị thần được thờ trong Nội đàn, nơi thiêng nhất của Nam Giao và được phân ra 2 vị trí:
Tại Viên đàn (Điện Đại Tự) thờ Thượng Đế và Hoàng Địa Kỳ như ở Nam Giao Huế. Điều khác biệt ở đây là có kiến trúc có mái.
Phía trước điện Đại Tự có thờ 4 vị thần: Đại Minh, Dạ Minh, Tinh Thần…
Các vị thần này ở Nam Kinh được đặt tại vị trí trang trọng nhất và trong cấu trúc tổng thể của Nam Giao, nơi thờ này gọi là Nội Đàn và được khép kín bởi Nội Tường đàn.
- Các vị thần được thờ ở Ngoại đàn được đặt ở 2 bên cửa Đại Tự và phía trước của Đại Tự:
+ Các vị Thần được thờ ở hai bên cửa Đại Tự
*Phía Tây (tính từ phía Bắc xuống) gồm: Bắc Nhạc, Bắc Trấn, Đông Nhạc, Tây Trấn, Tây Hải
*Phía Đông (tính từ phía Bắc xuống) gồm: Bắc Nhạc, Bắc Trấn, Đông Nhạc, Đông Trấn, Đông Hải.
+ Các vị thần được thờ ở hai bên phía trước Đại Tự:
*Phía Tây gồm : Trung Nhạc, Trung Trấn, Phong Vân Lôi Vũ, Nam Nhạc
*Phía Đông gồm: Thái Tuế, Đế Vương, Sơn Xuyên, Thần Kỳ, Tứ Bộc.
3. Suy nghĩ về việc thờ cúng các vị thần linh ở Nam Giao Thành Nhà Hồ:
Qua 2 trường hợp sắp đặt thờ cúng thần linh điển hình trên đây có thể thấy nổi mấy vấn đề:
3.1 Việc thờ cúng tại Nam Giao của 2 đàn tế này có hai điểm chung: thứ nhất là hợp thờ nhiều thần, thứ hai có 2 vị thần linh quan trọng nhất thờ ở vị trí trung tâm nhất không thay đổi là Trời (Hiện Thiên Thượng Đế) và Đất (Hoàng Địa Kì).
3.2 Việc thờ các vị thần khác thì có một vài thần tương tự như nhau, còn đa số có sự khác nhau.
3.3 Vị trí đặt các thần vị cũng rất khác nhau.
Ở Nam Giao Huế, Viên đàn có đường Kính lớn 40,5m tức là diện tích khá rộng: Trên mặt Viên đàn đặt các bàn thờ TRỜI – ĐẤT, chúa Nguyễn và các Hoàng đế đầu triều Nguyễn, Phương đàn (83m x 83m) mỗi góc đặt 2 bàn thờ các vị thần liên quan đến vũ trụ quan phương Đông thời Cổ và đất nước Đại Nam.
So với Nam Giao Nam Kinh (Trung Quốc) thì việc sắp đặt của Nam Giao Huế khác về cơ bản khi mà ở điện Đại Tự là kiến trúc có mái và gần nơi thời Trời Đất chỉ thờ các thần Mặt Trời, Mặt Trăng các Tinh Tú, trong khi Nam Giao Huế, gần nơi thờ Trời Đất là các bàn thờ Chúa Nguyễn và các Hoàng đế nhà Nguyễn
Các vị thần khác của Nam Giao Huế thì đặt gọn ở Phương Đàn trong khi các vị trí thờ khác ở Nam Giao Nam Kinh đều đặt ra ngoài Phương Đàn.
Giữa các vị thần 2 bên thì khác nhau rất nhiều: Ở Nam Giao Huế không có các thần Bắc Hải, Tây Nhạc,, Tây Trấn, Tây Hải, Bắc Nhạn, Đông Nhạn, Đông Trấn, Đông Hải, Trung Nhạc, Trung Trấn, Nam Nhạc, Nam Trấn, Nam Hải…
Ngược lại Nam Giao Nam Kinh (Trung Quốc) không có thờ các Hoàng đế nhà Minh, không có các thần Gò, Thần Đồi,Đồng Bằng. Nam Giao Nam Kinh thờ chi tiết nhiều đối với các Thần Núi, Thần Biển. Nam Giao Huế chi tiết nhiều đến các loại địa hình như sông, hồ, đồi ,gò, và đồng bằng… và đặc biệt chú trọng thờ kính tổ tiên dòng họ
Những nét gần nhau đó là giao thoa và các đặc điểm chung của văn hóa Phương Đông.
qNhững nét khác nhau đó là nét đặc sắc của văn hóa bản địa của mỗi nước, mỗi khu vực.
3.3 Suy nghĩ về việc thờ cúng thần linh tại Nam Giao Thành Nhà Hồ
Từ các so sánh sơ bộ như trên ta có thẻ đoán nhận được gì cho việc thờ cúng ở Đàn Tế Nam Giao Thành Nhà Hồ? Trước hết, có thể thấy cấu trúc đàn tế Nam Giao Thành Nhà Hồ một số nét gần với cấu trúc Nam Giao Nam Kinh. Tuy nhiên, về chi tiết thì Nam Giao Thành Nhà Hồ và Nam Giao Nam Kinh cũng có nhiều nét khác biệt rất lớn. Đó là vòng Nội Đàn của Thành Nhà Hồ có 2 cạnh vát chéo ở phía Bắc bao lấy toàn bộ Phương đàn và Viên đàn cùng 2 cụm kiến trúc đặt bài vị. Còn Nội đàn Nam Kinh thì bao lấy điện Đại Tự và 4 kiến trúc thờ 4 vị thần liên quan đến Trời. Toàn bộ các vị thần khác của Nam Giao Nam Kinh đều được thờ tại 2 cụm kiến trúc ở Ngoại đàn tương tự như 2 cụm kiến trúc trong Nội đàn.
Từ so sánh cấu trúc 2 đàn này và từ việc đặt thần vị các thần linh ở Nam Kinh có thể suy đoán 4 cụm kiến trúc ở Nam Giao Thành Nhà Hồ chính là 4 nơi đặt các thần vị thờ thần linh.
Còn đặt như thế nào và tên các vị thần thì còn phải nghiên cứu nhiều. Nhưng từ trường hợp Huế ta sẽ thấy chắc chắn thần vị ở Nam Giao Thành Nhà Hồ sẽ rất khác với Nam Giao Nam Kinh. Có thể tên các vị Thần ở Nam Giao Thành Nhà Hồ sẽ gần gũi với tên các vị thần ở Nam Giao Huế do tính truyền thống Việt Nam như đã được phản ánh ở Nam Giao Huế chứ không phải là như ở Nam Giao Nam Kinh.
Còn tại nơi thờ chính là Viên đàn thì có thể thấy Viên đàn Thành Nhà Hồ có kích thước rất nhỏ. Do đó nơi đây có thể tương tự như Nam Giao Huế, có hai bàn thờ Trời và Đất. Nhưng ở đây, như Nam Giao Huế sẽ không có kiến trúc có mái như Nam Giao Nam Kinh.
Tuy nhiên nơi đây có thờ tổ tiên nhà Hồ như ở Huế không thì hiện nay tôi không thể đoán được.
Nhưng từ nghiên cứu so sánh 2 trường thờ cúng Trời và Đất của Nam Giao Huế và Nam Giao Nam Kinh có thể thấy tại Nam Giao Thành Nhà Hồ chắc chắn sẽ có bàn thời Trời và Đất như Nam Giao Huế. Do vị trí kích thước thực tế của Viên đàn và Phương đàn của Thành Nhà Hồ thì trên Viên đàn ở đây sẽ không có đặt các bàn thờ khác như ở Nam Giao Huế vì nếu có sẽ rất chật chội. Nếu có các bàn thờ khác như thờ tổ tiên thì có thể sẽ đặt ở Phương đàn.
Các cụm kiến trúc khác ở Nam Giao Thành Nhà Hồ có thể đoán chắc là nơi đặt bàn thờ các vị thần linh khác liên quan đến Trời – Đất và đất nước Đại Ngu. Tuy nhiên là các vị thần nào thì cần tiếp tục nghiên cứu lâu dài.
Tóm lại nghiên cứu các giá trị phi vật thể cho đàn tế Nam Giao Thành Nhà Hồ còn rất nhiều việc phải làm. Nhưng càng nghiên cứu càng tô đậm thêm các giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản Thế giới Thành Nhà Hồ.